Categories
Kiến thức đầu tư

Điều gì trọng yếu nhất với một người đầu tư?

Tại cuộc sống, thỉnh thoảng chúng ta trải qua một loạt những giai đoạn giữa thiếu nội dung , quá thừa nội dung dẫn đến khái niệm , tư tưởng của chúng ta không nên định hình đúng , nghiêm ngặt để thực sự có thể trả lời ngay các câu hỏi trọng yếu.  Khi tôi khởi đầu thực hiện công việc ở Vietnam Investments Nhóm (VIG), khi tham gia vào bất cứ một thương vụ nào, chúng tôi nghiên cứu toàn bộ những nội dung thực sự có thể về thương trường, những đối thủ cạnh tranh, sự chuyển dịch cơ cấu về ngành, .v.v.  Thành quả của quá trình nghiên cứu đấy là một loạt những nội dung về toàn bộ các cái gì chúng tôi nghĩ là thực sự có thể có kể cả nội dung thương trường (pubic information) , nội dung bí mật (private information).  Thành quả của việc này là tôi có vô cùng nhiều nội dung tuy nhiên không hề biết sắp đặt ra sao cho đúng , phân loại nghiêm ngặt cái gì trọng yếu hơn cái gì. Việc quyết định đầu tư nữa không là một việc khó , có những phương diện cần coi đi xét lại , có những nội dung , đo đạt trái chiều nhau về việc liệu thương vụ này có nên đầu tư nữa không. Vị thế cạnh tranh trên thương trường? Hay là đáng giá tài sản ròng cao trên định giá thấp? Hay đội nhóm quản lý mạnh với 20 năm bài học đã gắn bó với nhau 5 năm? Hay hệ thống để quản lý nhân viên , phần trăm bỏ việc nhân sự thấp? Điều gì là nhân tố then chốt để quyết định có đầu tư thương vụ này nữa không?

Đây chính là một vấn đề phức tạp , nhiều nhân tố, tuy vậy tại bài đăng này tôi chỉ xin mang ra một cái nhìn trọng yếu có ảnh hưởng lớn đến quá trình ra quyết định đầu tư.

Vậy, điều gì trọng yếu nhất với một người đầu tư?

Tôi vô tình thấy một câu hỏi tương tự khác đã mở đưa cái nhìn của tôi tại việc nắm rõ ràng điều gì là trọng yếu nhất: Điều gì trọng yếu nhất đối với một người sale?

Đối với một người kinh doanh tôi nhận thấy một người kinh doanh vừa phải tạo công ăn việc làm, vừa phải giúp sức cho ngân sách nhà nước, vừa phải làm một nhà chỉ đạo, vừa phải hóa giải một vấn đề của xã hội (, tài chính sẽ tự đi theo).  Đối với một người đầu tư, tôi nhận thấy họ vừa phải là một người thấy được toàn cảnh (big picture), đầu tư vào đúng người, đúng dự án, đẩy toàn cầu tiến lên một bước (vd như đầu tư vào Google, kênh Facebook), , tư vấn cho đội nhóm chỉ đạo của công ty họ đầu tư vào.  Trái lại, vấn đề sale khá giản đơn: bạn bán được hàng, hoặc là bạn không bán được hàng, chấm hết.

Điều gì trọng yếu nhất đối với một người sale? – Bán được hàng.

Vậy điều gì trọng yếu nhất đối với một người đầu tư? – Tối ưu được tỷ suất sinh lời cho người đầu tư trên cấp độ nguy cơ trọn vẹn đối với người đầu tư.

Ở đây có 2 phương diện: tối ưu tỷ suất sinh lời trên sự kết nối với cấp độ nguy cơ đồng ý được với loại hình đầu tư đấy.  Trước đó khi tôi giải đáp câu hỏi điều gì trọng yếu nhất đối với một người đầu tư, tôi chỉ nghĩ tới chuyện sinh lời.  Càng về sau (thêm bài học đau thương mất mát) tôi càng nhận thấy việc quản lý nguy cơ là một đối trọng tự nhiên với việc tối đa hóa tỷ suất sinh lời.  Càng về sau nữa cái nhìn của tôi về đầu tư là cài đặt một kế hoạch đầu tư mạnh , tối ưu hóa về quản lý nguy cơ.  Cái nhìn sau cùng này năng động về quản lý nguy cơ (active risk management) hơn là năng động về kiếm tìm tỷ suất sinh lời.  Cái nhìn là nếu kế hoạch đầu tư mạnh, nó sẽ tự kiếm lời, còn mình sẽ thiên về phòng thủ , bảo toàn vốn.

Khi nhìn một người đầu tư dưới góc độ này, tôi có góc nhìn trưởng thành hơn về những hình thức đầu tư không giống nhau.  Trước đó tôi luôn nghĩ làm Vốn Đầu Tư Tư Nhân (Private Equity, PE) , Quỹ Đầu Tư Mạo Hiểm (Ventures Capital, VC) là “cool” hơn những loại hình đầu tư khác VD quản lý quỹ về trái phiếu hoặc quỹ hưu trí.  Nguyên nhân là khi làm PE hoặc làm VC tôi có cảm thấy mình có thời cơ để tham gia của mình vào những dự án thay đổi được ngành, nền kinh tế, , làm ra sản phẩm gì đấy hoàn toàn mới , đẩy toàn cầu đến giới hạn kế tiếp. Điều đó hiển nhiên là thú vị, tuy nhiên kể cả những người đầu tư tập đoàn (insitutional investors) hoặc những quỹ đất nước (sovereign funds) khi họ cung cấp vốn vào những quỹ PE hoặc VC họ mong muốn doanh nghiệp quản lý quỹ trước hết , trước tiên phải trả lời được câu hỏi trọng yếu nhất mà một người đầu tư: Liệu quỹ có đem lại lợi nhuận tối ưu trên cấp độ nguy cơ mà quỹ đồng ý nữa không? Trong đó, việc thay đổi toàn cầu nữa không không quá trọng yếu.  Dưới cái nhìn của một người đầu tư thế giới, họ để ý tới việc tối ưu việc dùng vốn mà họ quản lý.  Nếu toàn cầu bất ổn, thực sự có thể họ sẽ tạm bỏ xót những doanh nghiệp công nghệ đang mang con người lên sao Hỏa (Vd SpaceX của Elon Musk) mà họ sẽ cung cấp dòng tiền vào trái phiếu chính phủ của những đất nước lớn.  Nếu toàn cầu thịnh vượng , ít bất ổn hơn, thực sự có thể họ sẽ bán trái phiếu , đầu tư vào những quỹ PE hoặc VC ở những thương trường mới nổi.  Nếu tình hình tiền tệ có vẻ gian khó, thực sự có thể họ sẽ tăng vị thế vào những tài sản hữu hình như vàng , bất động sản.  Dưới cái nhìn của một người đầu tư thế giới, những doanh nghiệp, những đất nước, những loại hình đầu tư, vàng bạc, nhà cửa, tranh nghệ thuật, đều là các Công Cụ để họ tối ưu hiệu năng dùng vốn của họ dưới những điều kiện thương trường , nguy cơ cụ thể.  Nên sẽ vô lý nếu họ đầu tư vào một quỹ đầu tư nào đấy (PE hoặc VC) mà quỹ đầu tư đấy không ưu tiên việc dùng vốn của người đầu tư thế giới nêu trên để có được mục đích của người đầu tư thế giới đấy.

Phía dưới là bảng thành quả đầu tư của một vài group tài sản (asset class) , những quỹ đầu tư lớn trên toàn cầu từ 2001-2014 mà đồng nghiệp của tôi đã nghiên cứu khi chúng tôi trao đổi về tình hình hiệu năng sinh lời của những group tài sản , kế hoạch đầu tư không giống nhau:

bảng 1

Nguồn tham khảo
Dow Jones Link
London Gold Fix Link
Preqin’s  Special Report: Venture Capital, Nov 2014 Link
1Stock1.com Link
13F-HR SEC Filings for Soros Fund Management Link
13F-HR SEC Filings SAC Capital Advisors Link
13F-HR SEC Filings Paulson & Co Link

 

Nếu kẹt với tư tưởng của các thứ không trọng yếu với một người đầu tư (vd “cool” hoặc thay đổi toàn cầu) có lẽ tôi sẽ khá khó đồng ý được hiệu năng sinh lời của VC tại gần 15 năm qua là thấp nhất, chỉ 2.76%.  Thấp hơn so sánh với những quỹ hưu trí chỉ đầu tư theo cơ cấu của Dow Jones 4.97% còn S&P là 7.07%.  Thực tế là cả ngành VC lẫn ngành start-up (2 ngành tuy gần tuy nhiên không giống nhau) đều cung cấp về tỷ suất sinh lời vô cùng lệch (skewed) so sánh với cung cấp chuẩn thường thường (normal distribution) trong số đó chỉ có một số quỹ (công ty) thắng vô cùng lớn , đa phần lỗ (phá sản) (thuộc tính này gọi là “hit-driven business”).  Chưa kể do những quỹ VC thực sự có thể tự chọn tại việc có đưa ra thành quả đầu tư nữa không (self-reporting bias), việc nhận định thành quả đầu tư cho toàn ngành (asset class) là tương đối phiến diện do có những rào cản khác như việc tự phân phối thành quả định giá giữa kỳ (trước thời gian bán doanh nghiệp hoặc gọi vốn vòng kế tiếp) hay khuynh hướng chỉ có các quỹ đầu tư hiện hữu qua thời gian mới phân phối số liệu (survival bias).

Trở lại vấn đề nêu trên tại việc chọn một công ty để chúng tôi có đầu tư vào nữa không, dưới cái nhìn về tối ưu hóa vấn đề dùng vốn, chúng tôi sẽ coi xét kỹ những nhân tố đem lại được lợi suất sinh lời cao (upside) , những nguy cơ khi tham dự vào thương vụ đấy (downside). Quan sát chung, khi mua doanh nghiệp thì đầu tư dưới sàn (private) hay trên sàn (listed) đều như nhau ở điểm người đầu tư phải nắm chắc thuộc tính của dòng tiền quay lại người đầu tư theo cách nào. Về căn bản có 2 con đường, một là thông qua chia cổ tức, hai là thông qua đáng giá cổ phiếu tăng (bán doanh nghiệp). Vì lẽ đó trước thời gian tham gia một thương vụ nào, điều tôi học được là một người đầu tư khôn ngoan phải biết nghĩ tới việc sẽ bán doanh nghiệp đấy như ra sao (IPO hoặc bán kế hoạch, cho ai?) với đáng giá ước tính ra sao tại các khung cảnh kinh tế không giống nhau như thế nào. Nếu một doanh nghiệp khi nhận định sơ bộ thấy vô cùng tiềm năng , có những người quản lý mạnh tuy nhiên nếu người đầu tư không giải được bài toán bán doanh nghiệp ra sao với đáng giá tốt (vd nếu ước tính 5 năm nữa khi quỹ mong muốn thoái vốn, ngành này sẽ lâm vào trạng thái thừa cung , những doanh nghiệp trong khoảng tại khu vực sẽ phá sản hoặc thoái vốn với đáng giá thấp – chắc chắn quỹ sẽ cực kỳ ngại để tham gia vào thương vụ). Trong cái nhìn này, doanh nghiệp con là “hàng” , quỹ là “người sale”.  Điều gì trọng yếu nhất với người sale? Liệu người đầu tư có nên đầu tư nếu sau này “người sale” sẽ không bán được “hàng” của mình? Hoặc bán lỗ?

Như vậy để nhận định một thương vụ đúng như một người đầu tư, trước hết phải nắm rõ ràng ngay là đầu tư vào thương vụ này có lời nữa không? Nguy cơ thế nào? Chứ những nhân tố đầu tiên chẳng phải về vị thế thương trường hay bài học của CEO. Khi mà đã nắm rõ ràng được những nhân tố cấu thành nên lời giải thích cho hai câu hỏi trên, người đầu tư mới đi vào kỹ càng xuống những nội dung , đo đạt ở tầng dưới: Lời là vì doanh nghiệp có tốt , dễ bán nữa không? Rồi từ đấy mới đi đến những mức độ sâu hơn , nhận định các góc chi tiết hơn để nắm rõ ràng đáng giá của doanh nghiệp đang được cấu thành nên bởi những điểm nào , làm thế nào khi đầu tư vào, người đầu tư sẽ tạo đáng giá doanh nghiệp lên tối ưu đúng như tiềm năng quả nó thông qua bảo vệ , tăng trưởng những nhân tố cấu thành nên đáng giá doanh nghiệp đấy.

Tôn Thất Huệ Trí

Nguồn: timo.vn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *