Categories
Kiến thức đầu tư

Tín hiệu là gì?1.Định nghĩa về nội dung, dữ liệu, tín hiệu..

Tín hiệu là gì?

Thực sự có thể khái niệm, tín hiệu là diễn biến của một đại lượng vật lý chứa đựng tham số nội dung/dữ liệu , thực sự có thể truyền dẫn được. Theo khái niệm toán học thì tín hiệu được xem là một hàm của thời gian. Tại những lĩnh vực kỹ thuật, những loại tín hiệu thường hay sử dụng là điện, quang, khí nén, thủy lực , âm thanh.

Việc trao đổi nội dung (giữa người , người, giữa người , máy) hay dữ liệu (giữa máy , máy) chỉ thực sự có thể thực hiện được nhờ tín hiệu.

Những tham số tiếp theo thường hay được sử dụng trực tiếp, gián tiếp hay kết hợp để biểu thị thông tin nội dung:

  • Biên độ (điện áp, dòng,…)
  • Tần số, nhịp xung, độ rộng của xung, sườn xung
  • Pha, vị trí xung

Phân loại tín hiệu

Không phân biệt thuộc tính vật lý của tín hiệu (điện, quang, khí nén,…), ta thực sự có thể phân loại tín hiệu dựa theo tập hợp đáng giá của tham số nội dung hoặc dựa theo diễn biến thời  gian thành các dạng sau:

  • Tương tự: Tham số nội dung thực sự có thể có một đáng giá bất kỳ tại một khoảng nào đấy
  • Rời rạc: Tham số nội dung chỉ thực sự có thể có một vài đáng giá (rời rạc) nhất định.
  • Liên tục: Tín hiệu có ý nghĩa trong bất kỳ lúc nào tại một khoảng thời gian để ý. Nói theo ngôn ngữ toán học, một tín hiệu liên tục là một hàm liên tục của biến thời gian tại một khoảng nắm rõ ràng.
  • Gián đoạn: Tín hiệu chỉ có ý nghĩa trong các lúc nhất định
Tín hiệu là gì Một số loại tín hiệu hay gặp.

Tín hiệu là gì? Một vài loại tín hiệu hay gặp.

Khi những đáng giá tham số nội dung của một tín hiệu được biểu diễn bằng mã nhị phân, thì dạng tín hiệu đáng chú ý này được gọi là tín hiệu số. Nói một cách khác, tín hiệu số sử dụng để truyền tải nội dung đã được dữ liệu hóa.

Với tín hiệu số, ta chỉ cần phân biệt giữa hai tình trạng của tín hiệu ứng với những bit 0 , 1, vì thế sẽ hạn chế được một cách mang lại hiệu quả sự sai lệch nội dung bởi sự ảnh hưởng của nhiễu.

Nội dung là gì?

Tại đời sống, nội dung là bất kỳ thực thể hoặc hình thức phân phối lời giải thích cho một câu hỏi nào hoặc khắc phục sự không chắc chắn.

Trong đó, nội dung là một tại các định nghĩa cơ sở trọng yếu nhất tại khoa học kỹ thuật, cũng như vật chất , năng lượng. Những đầu vào cũng giống như những đầu ra của một bộ máy kỹ thuật chỉ thực sự có thể là vật chất, năng lượng hoặc nội dung.

Một bộ máy giải quyết nội dung hoặc một bộ máy quảng bá là một bộ máy kỹ thuật chỉ để ý tới những đầu vào , đầu ra là nội dung. Tuy vậy, đa phần những bộ máy kỹ thuật khác thường hay có những đầu vào , đầu ra hỗn hợp (vật chất, năng lượng , nội dung).

Dữ liệu là gì?

Nội dung là một đại lượng khá trừu tượng, vì thế cần được biểu diễn dưới một hình thức khác. Năng lực biểu diễn nội dung vô cùng đa dạng, VD qua chữ viết, hình ảnh, cử chỉ, v.v… Dạng biểu diễn nội dung phụ thuộc vào mục tiêu, thuộc tính của phần mềm. Đáng chú ý, nội dung thực sự có thể được mô tả, hay Theo một cách khác là được “số lượng hoá” bằng dữ liệu để thực sự có thể lưu giữ , giải quyết tại máy tính.

Tại hoàn cảnh đấy, ta cũng nói rằng nội dung được số hoá dùng hệ đếm nhị phân, hay mã hóa nhị phân. Nói tại ngữ cảnh cấu trúc một bức điện, dữ liệu chính là phần nội dung có ích được biểu diễn bằng dãy những bit {1và0}.

Truyền dữ liệu , truyền tín hiệu là gì?

Mã hóa tín hiệu là gì?

Nội dung cần trao đổi giữa những cộng tác được mã hóa trước thời gian được một bộ máy truyền dẫn tín hiệu chuyển tới phía bên kia. Tại thuật ngữ quảng bá, mã hóa chỉ quá trình biến đổi nguồn nội dung (dữ liệu) cần trao đổi sang một chuỗi tín hiệu phù hợp để truyền dẫn. Quá trình này ít nhất thường hay gồm có hai bước: mã hóa nguồn , mã hóa đường truyền.

Tại quá trình mã hóa nguồn, dữ liệu đưa nội dung thực dụng hay dữ liệu nguồn được bổ sung những nội dung phụ trợ cần có cho việc truyền dẫn, VD địa chỉ bên gởi , bên nhận, kiểu dữ liệu, nội dung kiểm lỗi, v.v… Dữ liệu trước thời gian gởi đi cũng thực sự có thể được phân chia thành nhiều gói dữ liệu bức điện để hợp với phương pháp truyền, nén lại để tăng hiệu năng đường truyền, hoặc mã hóa bảo mật. Như vậy, lượng nội dung chứa đựng tại một tín hiệu sẽ nhiều hơn lượng nội dung thực dụng cần truyền tải.

Khi mà đã đã được mã hóa nguồn, mã hóa đường truyền là quá trình tạo tín hiệu tương ứng với những bit tại gói dữ liệu hay bức điện theo một phương pháp nhất định để hợp với đường truyền , kỹ thuật truyền.

Nguyên tắc truyền nhận dữ liệu

Nguyên tắc truyền nhận dữ liệu

Tại quảng bá công nghiệp, mã hóa đường truyền đồng nghĩa với mã hóa bit, bởi tín hiệu do khâu mã hóa từng bit làm ra cũng chính là tín hiệu được truyền dẫn. Đối với những bộ máy quảng bá khác, quá trình mã hóa đường truyền thực sự có thể bao gồm việc điều biến tín hiệu , dồn kênh, cho phép truyền cùng một thời điểm nhiều nguồn nội dung , truyền tốc độ cao. Việc dồn kênh thực sự có thể thực hiện theo phương pháp phân chia tần số, phân chia thời gian hoặc phân chia mã.

Ví dụ mã hóa tín hiệu

VD mã hóa tín hiệu là gì

Giải mã tín hiệu là gì?

Quá trình trái lại với mã hóa là giải mã, tức là chuyển đổi những tín hiệu nhận được thành dãy bit tương ứng , sau đấy giải quyết, loại bỏ những nội dung bổ sung để tái tạo nội dung nguồn.

Tốc độ truyền , tốc độ bit

Tốc độ truyền hay tốc độ bit được tính bằng số bit dữ liệu được truyền đi tại một giây, tính bằng bit/s hoặc bps ( bit per second). Nếu tần số nhịp được ký hiệu là f , số bit truyền đi tại một nhịp là n, số bit được truyền đi tại một giây sẽ là v = f*n.

Như vậy, có hai cách để tăng vận tốc truyền tải là tăng tần số nhịp hoặc tăng số bit truyền đi tại một nhịp. Nếu mỗi nhịp chỉ có một bit độc nhất được chuyển đi thì v = f. Như vậy, chỉ đối với những phương pháp mã hóa bit dùng hai trạng tín hiệu , tình trạng tín hiệu thay đổi luân phiên sau mỗi nhịp thì tốc độ bit mới trong khoảng với tốc độ baud, hay 1Baud trong khoảng với 1bit/s.

Thời gian bit , chu kỳ bit

Tại việc đo đạt, nhận định tính năng thời gian của một bộ máy quảng bá thì thời gian bit là một đáng giá hay được sử dụng. Thời gian bit hay chu kỳ bit được khái niệm là thời gian trung bình cần có để chuyển một bit, hay chính bằng đáng giá nghịch đảo của tốc độ truyền tải:

TB = 1/v

TB = 1/f, hoàn cảnh n = 1

Thời gian lan truyền tín hiệu là gì?

Thời gian lan truyền tín hiệu là thời gian cần để một tín hiệu phát ra từ một đầu dây lan truyền tới đầu dây khác, phụ thuộc vào chiều dài , cấu tạo dây dẫn. Tốc độ lan truyền tín hiệu chính là tốc độ truyền sóng điện từ. Tuy vậy, tại môi trường kim loại hoặc sợi quang học, đáng giá này sẽ nhỏ hơn tốc độ truyền sóng điện từ hay tốc độ ánh dương tại môi trường chân không. Ta có:

TS = l/(k*c)

Trong số đó:

  • TS là thời gian lan truyền tín hiệu,
  • l là chiều dài dây dẫn,
  • c là tốc độ ánh dương tại chân không (300.000.000m/s)
  • k biểu thị hệ số giảm tốc độ truyền, được tính theo công thức: k = 1 / căn(ε); với ε là hằng số điện môi của lớp cách ly

Đối với những loại cáp có lớp bọc cách ly là Polyethylen với hằng số điện môi ε = 2.3, ta có hệ số k ≈ 0.67. Hệ số này cũng đúng với môi trường truyền là cáp quang , thường hay được sử dụng một cách tổng quan để tính toán đáng giá tương đối của thời gian lan truyền tín hiệu tại nhiều phép nhận định. Như vậy TS sẽ chỉ còn phụ thuộc vào chiều dài dây dẫn:

TS (giây) = l (mét)/200.000.000

Nguồn: “Mạng quảng bá công nghiệp © 2008, Hoàng Minh Sơn – ĐHBK Hà Nội

Bài đăng tham khảo: Định nghĩa, nhiệm vụ , phân loại mạng quảng bá công nghiệp

Chuyên mục tham khảo: Quảng bá công nghiệp

Nếu những bạn có bất cứ khúc mắc hay cần tư vấn về thiết bị dịch vụ vui lòng ý kiến dưới đây hoặc Liên lạc chúng tôi!

Chúng tôi luôn chấp nhận ngay lập tức đem lại các đáng giá tốt đẹp cho cộng đồng!

Youtobe kênh Facebook Twitter

 

Sẻ chia cùng cộng đồng!


Nguồn: khs247.com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *