Categories
Kiến thức đầu tư

Nguy cơ (Risk) là gì? Những loại nguy cơ thường hay gặp tại bảo hiểm

Nguy cơ (tiếng Anh: Risk) được hiểu là là năng lực diễn ra biến cố bất bình thường có hậu quả thiệt hại hoặc đưa lại thành quả không mong chờ. Những loại nguy cơ thường hay gặp tại bảo hiểm là nguy cơ thực sự có thể được bảo hiểm, nguy cơ được bảo hiểm , nguy cơ loại trừ.

2793969

Hình minh họa. Nguồn: autogear.ru

Nguy cơ (Risk)

Khái niệm

Nguy cơ tại tiếng Anh gọi là Risk. Hiểu theo cách chung nhất, nguy cơ là năng lực diễn ra biến cố bất bình thường có hậu quả thiệt hại hoặc đưa lại thành quả không mong chờ.

Phân loại nguy cơ

Tùy theo mục tiêu của việc nhận định , quản lí, những nguy cơ thực sự có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức không giống nhau. 

Theo năng lực diễn ra hậu quả, nguy cơ được chia thành nguy cơ đầu cơ , nguy cơ thuần túy.

Theo ảnh hưởng , tác động, nguy cơ có hai loại là nguy cơ căn bản , nguy cơ riêng biệt.

Theo thuộc tính hậu quả, nguy cơ gồm có nguy cơ tài chính , nguy cơ phi tài chính

Về phương diện kĩ thuật nghiệp vụ bảo hiểm, nguy cơ được chia thành nguy cơ thực sự có thể bảo hiểm , nguy cơ không thể bảo hiểm.

Tại phạm vi một hợp đồng bảo hiểm, nguy cơ thường hay được chia thành: nguy cơ được bảo hiểm, nguy cơ không nên bảo hiểm và rủi ro loại trừ.

Những loại nguy cơ thường hay gặp tại bảo hiểm

Rủi ro có thể được bảo hiểm 

Không phải rủi ro nào cũng có thể đươc̣ bảo hiểm. Một rủi ro có thể đươc̣ bảo hiểm phải hội tụ những đặc tính tiếp theo: 

– Tổn thất phải đưa tính ngẫu nhiên

Một sự kiện có thể được bảo hiểm phải hoàn toàn ngẫu nhiên đứng trên góc độ của người bảo hiểm. Không thể nào bảo hiểm một sự kiện chắc chắn sẽ xảy ra bởi vì nó không đưa tính chất ngẫu nhiên và do đó việc chuyển giao rủi ro sẽ không xảy ra.

VD: Hỏng hóc do hao mòn tự nhiên gây ra, hành động cố ý của người được bảo hiểm. Đối với nguy cơ chết, đây là loại rủi ro chắc chắn xảy ra, tuy vậy nó vẫn là nguy cơ thực sự có thể được bảo hiểm với điều kiện cái chết xảy ra phải là bất ngờ.

– Phải đo được, định lượng được về tài chính

Ý nghĩa của bảo hiểm chính là phát huy tác dụng như một cơ chế chuyển giao rủi ro và bù đắp tài chính cho những rủi ro xảy ra tổn thất. 

Bảo hiểm không thể loại bỏ được nguy cơ , nó có nhiệm vụ bảo vệ về mặt tài chính để đối phó với các hậu quả khi xảy ra tổn thất. Như vâỵ, nguy cơ được bảo hiểm có thể dẫn đến một vài tổn thất và được đo bằng các Công Cụ tài chính. 

– Cần có số đông

Nếu số lượng đối tượng bảo hiểm đủ lớn tại một phạm vi bảo hiểm nhất định thì công ty bảo hiểm có thể cân đối được nguồn thu đủ để bù đắp khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Trái lại số lượng đối tượng bảo hiểm không đủ lớn tại một phạm vi bảo hiểm nhất định thì công ty bảo hiểm sẽ khó khăn tại khâu tính toán phí bảo hiểm, , thường hay thì phí bảo hiểm mang lại được không đủ bù đắp tổn thất hay nói cách khác là không cân xứng với phần trách nhiệm bảo hiểm mà công ty bảo hiểm đảm nhận.

Trường hợp không có số đông thì phí bảo hiểm vô cùng cao, , thường hay tính cho một đối tượng bảo hiểm cụ thể tại một thời hạn nhất định. 

VD: Bảo hiểm phóng vệ tinh , thời gian sống của vệ tinh tại vũ trụ. 

– Không trái với chuẩn mực đạo đức

Nguyên tắc chung được pháp luật xác nhận là hợp đồng kí kết không nên trái với những điều mà xã hội cho là chuẩn mực đạo đức và lẽ phải. Chẳng hạn, không chấp nhận bảo hiểm rủi ro của một vụ phạm pháp không thành hoặc hành động cố ý hủy hoại tài sản của người khác. 

Rủi ro được bảo hiểm 

Một nguy cơ được bảo hiểm thì trước hết phải là nguy cơ thực sự có thể được bảo hiểm.

Nguy cơ được bảo hiểm: Là các nguy cơ được công ty bảo hiểm đồng ý bảo hiểm nếu các nguy cơ này diễn ra sẽ gây thiệt hại cho đối tượng được bảo hiểm , làm phát sinh trách nhiệm bồi thường hay hoặc trả tiền bảo hiểm của công ty bảo hiểm.

Nguy cơ loại trừ

Nguy cơ loại trừ gồm có các nguy cơ mà công ty bảo hiểm không đồng ý bảo hiểm, không đồng ý bồi thường hay hoặc trả tiền bảo hiểm nếu chúng diễn ra. 

Những công ty bảo hiểm thực sự có thể mở rộng hoặc thu hẹp những nguy cơ bị loại trừ (mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi bảo hiểm), làm cho sản phẩm bảo hiểm thích hợp hơn với điều kiện cụ thể của đối tượng bảo hiểm, bao gồm cả nhu cầu bảo hiểm , năng lực tài chính của người tham gia bảo hiểm. 

Nguy cơ được bảo hiểm , nguy cơ loại trừ thường hay được nêu tại Qui tắc bảo hiểm hoặc điều khoản bảo hiểm hoặc hợp đồng bảo hiểm. 

Tại nhiều trường hợp, đơn bảo hiểm chỉ liệt kê những rủi ro bị loại trừ, những rủi ro không bị loại trừ mặc nhiên là những rủi ro được bảo hiểm.

(Tài liệu hướng dẫn: Giáo trình Đại lí bảo hiểm căn bản, NXB Tài chính)

Nguồn: vietnambiz.vn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *