Categories
Kiến thức đầu tư

CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ

CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ

Khi tham gia công việc giao thương tại nước hay quốc tế, cả người mua , người bán đều có một mục đích căn bản khi họ độc nhất với nhau một giải pháp thanh toán đấy là :

– Người mua sẽ nhận được hàng mà họ đã đặt hàng.
– Người bán sẽ được trả đủ số tiền đã độc nhất đúng hạn.

Tại khi việc tiến hành những giao dịch thương mại tại nội địa mỗi đất nước dường như có vẻ giản đơn , thuận lợi thì việc tiến hành những vụ giao dịch quốc tế có vẻ như là phức tạp , có rủi ro nguy cơ cao. Đáng chú ý sự xa cách về địa lý, ngôn ngữ, thông tục, luật lệ , những sai biệt về tập quán thương mại khiến cho người dùng khó tiếp xúc với vũ đài quốc tế.

Hiểu rõ được những phương thức thanh toán quốc tế sẽ giúp cho người dùng vượt qua các gian khó mà bạn thường hay xuyên gặp tại thương mại quốc tế.

Có 6 phương pháp thanh toán quốc tế cơn bản, mỗi một phương pháp không giống nhau sẽ giúp bảo vệ bạn ở cấp độ an toàn không giống nhau , khoản chi cũng không giống nhau. Chọn phương pháp nào là tùy thuộc theo sự kết nối của bạn với cộng tác của mình, tùy thuộc theo cấp độ nguy cơ của giao dịch , tại một vài hoàn cảnh thì tuỳ thuộc vào quy định của đất nước của cộng tác đòi hỏi để thực sự có thể chọn được phương thức thanh toán quốc tế thích hợp

thanh toán quốc tế
thanh toán quốc tế

1. Trả trước, Điện chuyển tiền

Trả trước: đây có lẽ là cách thức thanh toán ước muốn nhất của người bán vì họ chẳng hề chịu áp lực về nguy cơ phát sinh , thực sự có thể mang lại được tiền hàng ngay nếu dùng phương thức điện chuyển tiền. Tuy vậy, phương thức này gây nhiều gian khó về dòng tiền , tăng nguy cơ cho người mua cho nên thường thường họ ít khi đồng ý trả tiền trước thời gian nhận được hàng.

Để cam kết ích lợi cho cả hai bên, bạn nên thỏa thuận với người mua về phương thức thanh toán. Tại hoàn cảnh người mua không đồng ý thanh toán tất cả tiền hàng trước thời gian vận chuyển, để giảm thiểu nguy cơ, bạn thực sự có thể cân đề cập đến phương thức trả ngay từng phần. Để giảm bớt nguy cơ, tại hợp đồng ngoại thương thực sự có thể qui định như sau: “người mua phải trả cho người bán 30% tiền hàng sau khi hợp đồng được ký kết; phần còn lại sẽ được thanh toán khi người mua nhận được bản copy bộ chứng từ gởi hàng” hoặc “người mua phải trả cho người bán 30% tổng đáng giá hợp đồng sau khi hai bên ký kết hợp đồng; phần còn lại sẽ được thanh toán bằng thư tín dụng không hủy ngang có công nhận”.

Phương thức chuyển tiền (Remittance)

Đầu tiên, phương thức chuyển tiền (Remitttance) là cách thức mà trong số đó một đối tượng mua hàng của tổ chức tài chính (người đòi hỏi chuyển tiền) đòi hỏi tổ chức tài chính chuyển một vài tiền nhất định cho người thụ hưởng ở một địa điểm nhất định, với hình thức chuyển tiền trả sau, người xuất khẩu sẽ đứng vào vị trí bất lợi tại hoàn cảnh hàng hóa đã chuyển đi mà vì nguyên nhân nào đấy người nhập khẩu chậm lập lệnh chuyển tiền gởi cho tổ chức tài chính dẫn đến người xuất khẩu chậm nhận được tiền thanh toán. , trái lại, với phương thức chuyển tiền trả trước, nguy cơ sẽ chuyển sang cho nhà nhập khẩu ở chỗ người nhập khẩu đã chuyển tiền đi thanh toán cho người xuất khẩu rồi tuy nhiên chưa nhận được hàng vì nhà xuất khẩu chậm trể giao hàng.

2. Phương thức tín dụng chứng từ (Letter of Credit – L/C)

Tên gọi & ký hiệu của Tín dụng thư
•Letter of credit: LOC, LC, L/C.
•Documentary credit: DC, D/C.
•Documentary letter of credit.
•Credit (được khái niệm tại UCP 600).
Khái niệm:
Tín dụng thư (hay còn gọi là thư tín dụng) là một văn bản pháp lý được phát hành bởi một ngân hàng (thường thường là tổ chức tài chính), nhằm phân phối một sự đảm bảo trả tiền cho một người thụ hưởng trên cơ sở người thụ hưởng phải đáp ứng những điều khoản tại tín dụng thư. Điều đó có nghĩa là: Khi một người thụ hưởng hoặc một tổ chức tài chính xuất trình (đại diện của người thụ hưởng) thỏa mãn tổ chức tài chính phát hành hoặc tổ chức tài chính công nhận tại khoảng thời gian có hiệu lực của LC (nếu như có) các điều kiện tiếp theo:
•Những chứng từ cần có thỏa mãn điều khoản , điều kiện của LC. Chẳng hạn như: vận đơn (bản gốc , nhiều bản sao), hóa đơn lãnh sự, hối phiếu, hợp đồng bảo hiểm ..v.v
•Những thông lệ tại UCP , công việc tổ chức tài chính quốc tế.
•Những thông lệ của tổ chức tài chính phát hành hoặc tổ chức tài chính công nhận (nếu như có).
Nói một cách ngắn gọn, một L/C là:
•Một loại chứng từ thanh toán
•Do bên mua (hoặc bên nhập khẩu) đòi hỏi mở.
•Liên hệ thông qua những kênh tổ chức tài chính.
•Được trả bởi tổ chức tài chính phát hành hoặc tổ chức tài chính công nhận thông qua tổ chức tài chính thông báo (advising bank trong nước người thụ hưởng) tại một khoảng thời gian nắm rõ ràng nếu đã xuất trình những loại chứng từ hoàn toàn thích hợp với những điều kiện, điều khoản.
Những ngân hàng chẳng hề là tổ chức tài chính cũng thực sự có thể phát hành LC.
LC cũng thực sự có thể là nguồn thanh toán cho một giao dịch, nghĩa là một nhà xuất khẩu sẽ được trả tiền bằng cách mua lại LC. LC được dùng chủ yếu tại giao dịch thương mại quốc tế có đáng giá lớn. LC cũng được sử dụng tại quá trình tăng trưởng điền sản để đảm bảo rằng các cơ sở hạ tầng công cộng đã được phê duyệt (như đường xá, vỉa hè, ke chắn sóng ..v.v) sẽ được tạo ra.
Những bên ảnh hưởng mãi mãi hiện hữu tại LC:
•Người thụ hưởng (Beneficiary): người nhận tiền.
•Tổ chức tài chính phát hành(opening/issue bank): Tổ chức tài chính mà người nộp đơn xin mở LC.
•Tổ chức tài chính thông báo(advising bank): Tổ chức tài chính mà người thụ hưởng là đối tượng mua hàng.
Tuy vậy, người nộp đơn xin mở LC chẳng hề là một bên tại LC.
Hầu như những LC được dùng hiện nay là L/C không hủy ngang. Tại quá trình tiến hành giao dịch, LC kết hợp các công dụng thường thường của séc , ký quỹ trực tiếp.
Một giao dịch L/C điển hình:
•Ngân Hàng mở/phát hành sẽ chọn một tổ chức tài chính thông báo trong nước người xuất khẩu. Thường hay thì tổ chức tài chính này có quan hệ tốt với tổ chức tài chính mở/phát hành hoặc là đại lý/chi nhánh của tổ chức tài chính này.
•Tổ chức tài chính thông báo sẽ thông báo đến người thụ hưởng L/C (thường hay là người bán/người xuất khẩu) là L/c đã được mở kèm theo thông tin của L/C. Nếu người thụ hưởng đồng ý hoặc đòi hỏi sửa chữa thì báo cho tổ chức tài chính thông báo —> thông báo cho tổ chức tài chính phát hành để phát hành hoặc chỉnh sửa.
•Khi mà đã đồng ý thông tin L/C thì người xuất khẩu sẽ tiến hành giao hàng , sáng lập bộ chứng từ.
•Người Xuất khẩu gửi bộ chứng từ cho tổ chức tài chính thông báo
•Tổ chức tài chính thông báo gửi bảng copy bộ chứng từ cho Tổ chức tài chính mở/phát hành rà soát.
•Nếu bộ chứng từ hợp lệ thì tổ chức tài chính mở/phát hành tiến hành thanh toán cho người xuất khẩu (thụ hưởng) , thu thập bộ chứng từ thông qua tổ chức tài chính thông báo
Những loại tính dụng thư:
•Thư tín dụng thực sự có thể huỷ ngang (revocable L/C): loại này đã bị bỏ theo UCP 600 , toàn bộ những thư tín dụng là không có khả năng hủy ngang
•Thư tín dụng không thể huỷ ngang (irrevocable L/C)
•Thư tín dụng công nhận (Confirmed L/C)
•Thư tín dụng tuần hoàn (revolving L/C)
•Thư tín dụng giáp lưng (back to back L/C)
Mở L/C:
Mở một L/C hoàn toàn không đơn giản, tổ chức tài chính thường hay căn cứ vào các dấu hiệu sau:
•Dấu hiệu của hàng hóa xuất nhập khẩu.
•Năng lực tài chính , uy tín của người mở L/C.
•Tình hình sản xuất giao thương thực tế của người mở L/C.
•Tùy theo quy định của tổ chức tài chính , pháp luật của nước sở trong.
Khoản chi của một L/C mà người nhập khẩu phải trả thường hay là một khoản phí cố định cộng thêm tỷ lệ (, thực sự có thể có hoa hồng). Khoản chi L/C của nhà nhập khẩu thường hay tăng tại một vài hoàn cảnh phổ biến sau:
•Đòi hỏi tổ chức tài chính của mình (Ngân Hàng Mở/phát hành): phát hành thư bảo lãnh, thư uỷ quyền nhận hàng, ký hậu vận đơn gốc theo L/C.
Đối với người xuất khẩu, họ sẽ phải trả nhiều loại khoản chi. Khoản chi L/C của nhà xuất khẩu thường hay tăng tại một vài hoàn cảnh phổ biến sau:
•L/C không thể trả ngay.
•Nghiệp vụ tín dụng thư có những hơn 2 tổ chức tài chính tham gia.
•Người xuất khẩu đòi hỏi công nhận tín dụng thư.
•Chứng từ không độc nhất, hoặc cần có phải bổ sung hay sửa đổi.

3. Phương thức nhờ thu (Collection of payment)

Để giải quyết các nhược điểm của phương thức chuyển tiền trả sau, phương thức nhờ thu điển hình là cách thức nhờ thu hối phiếu kèm chứng từ ra đời nhằm cam kết quyền lợi cho nhà xuất khẩu.

Người xuất khẩu sau khi làm xong vai trò xuất chuyển hàng hoá cho người nhập khẩu thì uỷ thác cho tổ chức tài chính phục vụ mình thu hộ số tiền ở người nhập khẩu trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra.

Những thành phần chủ yếu tham gia phương thức thanh toán này như sau:

– Người xuất khẩu

– Tổ chức tài chính phục vụ người xuất khẩu

– Tổ chức tài chính đại lý của tổ chức tài chính phục vụ người xuất khẩu (đấy là tổ chức tài chính đất nước của người nhập khẩu)

– Người nhập khẩu

Phương thức nhờ mang lại được phân ra làm hai loại như sau:

– Nhờ thu đồng ý chứng từ: Người xuất khẩu sau khi xuất chuyển hàng hoá, lập những chứng từ hàng hoá gởi trực tiếp cho người nhập khẩu (không qua tổ chức tài chính), cùng lúc đó uỷ thác cho tổ chức tài chính phục vụ mình thu hộ tiền trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra.

Phương thức thanh toán này ít được dùng tại thanh toán thương mại quốc tế vì nó không cam kết quyền lợi cho người xuất khẩu.

– Nhờ thu kèm chứng từ: là cách thức trong số đó người xuất khẩu uỷ thác cho tổ chức tài chính thu hộ tiền ở người nhập khẩu, không các chỉ căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hoá, gởi kèm theo với điều kiện là người nhập khẩu trả tiền hoặc đồng ý hối phiếu có kỳ hạn, thì tổ chức tài chính mới trao bộ chứng từ hàng hoá để đi nhận hàng.

Theo phương thức này tổ chức tài chính không chỉ là người thu hộ tiền mà còn là người khống chế bộ chứng từ hàng hoá. Với cách khống chế này quyền lợi của người xuất khẩu được cam kết hơn.

4. Phương thức ghi sổ (Open tài khoản)

người xuất khẩu mở một account để ghi nợ người nhập khẩu đòi hỏi người nhập khẩu trả tiền cho người xuất khẩu vào lúc nắm rõ ràng trong thời gian tới. Phương thức này chỉ thuận lợi , an toàn tại hoàn cảnh hai bên thực sự tin cậy lẫn nhau, đã mua sale nhiều lần , người mua có uy tín thanh toán.

Tuy vậy, dùng phương thức ghi sổ có vô cùng nhiều nguy cơ. Người xuất khẩu sẽ vô cùng khó khiếu nại do không có sự tham gia của Tổ chức tài chính , những chứng từ của tổ chức tài chính. Là người xuất khẩu, bạn thực sự có thể phải thu tiền hàng ở nước ngoài, mà việc này vô cùng khó , tốn nhiều khoản chi. Trong đó, việc theo dõi , xử lí những khoản phải thu gặp vô cùng nhiều gian khó do không dùng hối phiếu hay bất kì chứng từ ghi nợ nào.

Chú ý, đối với toàn bộ những phương thức thanh toán nói trên, bạn nên nêu rõ điều khoản là cộng tác (người mua) phải chịu khoản chi chuyển tiền tài tổ chức tài chính tại hợp đồng ngoại thương.
Để hạn chế nguy cơ, chỉ áp dụng phương thức này khi cả hai bên là những bạn hàng có sự kết nối làm ăn dài lâu, thực sự tin cậy lẫn nhau. Để đảm bảo an toàn cho nhà xuất khẩu, những bên thực sự có thể áp dụng cách thức làm đảm bảo như thư bảo lãnh tổ chức tài chính, thư tín dụng đề phòng, đặt cọc…

5. Phương thức ủy thác mua hàng (Authority to purchase – A/P)

A/P là một phương thức thanh toán áp dụng tại công việc mua sale hóa quốc tế, theo đấy Tổ chức tài chính của nhà nhập khẩu, theo đòi hỏi của nhà nhập khẩu, ra văn bản đòi hỏi tổ chức tài chính đại lý ở nước xuất khẩu phát hành một A/P đảm bảo sẽ mua hối phiếu của nhà xuất khẩu ký phiếu với điều kiện chứng từ xuất trình thích hợp với những điều kiện đặt ra tại A/P , phải được đại diện của nhà nhập khẩu công nhận thanh toán.

Phương thức này áp dụng chủ yếu tại những hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị, những sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật , công nghệ cao.

Thực chất của phương thức này là nhà nhập khẩu thông qua tổ chức tài chính của mình ở nước nhập khẩu chuyển tiền sang một tổ chức tài chính ở nước xuất khẩu để ủy thác cho tổ chức tài chính này trả tiền hối phiếu của nhà xuất khẩu ký phát.

Có hai cách thức chuyển tiền sang tổ chức tài chính của nước xuất khẩu để mua hàng:

Một là, nhà nhập khẩu thông qua tổ chức tài chính của mình chuyển tiền đặt cọc 100% sang tổ chức tài chính nước xuất khẩu để tổ chức tài chính này phát hành A/P.

Hai là, nhà nhập khẩu đòi hỏi tổ chức tài chính của mình phát hành A/P cho tổ chức tài chính đại lý ở nước xuất khẩu hưởng , đặt cọc 100% trị giá của A/P. Trên cơ sở A/P đấy, tổ chức tài chính nước xuất khẩu phát hành một A/P đối ứng cho người thụ hưởng là nhà xuất khẩu.

6. Bảo lãnh , Tín dụng đề phòng

Bản chất bảo lãnh , tín dụng đề phòng là những cách thức làm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ tại hợp đồng.

Bảo lãnh là việc người thứ a (người bảo lãnh) đảm bảo với bên có quyền (người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (người được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện chưa đúng nghĩa vụ. Tại giao dịch xuất nhập khẩu thường hay có những bảo lãnh: bảo lãnh thực hiện hợp đồng; bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước (hoặc tiền đặt cọc); bảo lãnh bảo hành máy móc, thiết bị; bảo lãnh nhận hàng chưa có vận đơn gốc; bảo lãnh thanh toán

Thư tín dụng đề phòng là đảm bảo không hủy ngang, độc lập, bằng văn bản , ràng buộc khi được phát hành. Trong số đó người phát hành đảm bảo với người thụ hưởng thanh toán chứng từ xuất trình trên bề mặt thích hợp với những điều khoản , điều kiện của thư tín dụng đề phòng theo đúng quy tắc. Người phát hành phải thanh toán chứng từ xuất trình thông qua việc chuyển số tiền theo phương thức trả tiền ngay, hoặc đồng ý hối phiếu của người thụ hưởng hoặc đảm bảo trả tiền sau hoặc chiết khấu….

Bảo lãnh hoặc thư tín dụng đề phòng được dùng kết hợp với những phương thức thanh toán khác để tăng độ an toàn cho những bên. Do vậy, tại những giao dịch mua sale hóa quốc tế, đáng chú ý đối với những hàng hóa có đáng giá lớn như máy móc, thiết bị những bên cũng nên coi xét , áp dụng những cách thức làm bảo lãnh hoặc thư tín dụng đề phòng.


Nguồn: nmatuyen.blogspot.com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *